Đặt lịch hẹn khám

Đăng ký tư vấn, hỏi bác sĩ miễn phí

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của quý khách, chúng tôi sẽ liên hệ với bạn trong thời gian sớm nhất
Giỏ hàng

Tổng quan về tứ chẩn – 4 phương pháp chẩn đoán bệnh trong y học cổ truyền

Trong y học cổ truyền vọng, văn, vấn, thiết kết hợp là 4 phương pháp áp dụng phổ biến để chẩn đoán bệnh. 4 phương pháp này được gọi chung là Tứ Chẩn, không thể tách rời trong chẩn đoán y học cổ truyền mà chúng sẽ kết hợp và bổ sung cho nhau. Vậy Tứ Chẩn là gì, hãy cùng tìm hiểu tổng quan và phương pháp Tứ Chẩn trong y học cổ truyền hiện nay nhé. 

Tứ chẩn là gì?

Tứ chẩn là 4 phương pháp để khám bệnh dùng trong y học cổ truyền. Tứ chẩn bao gồm: Vọng (nhìn), văn (nghe), vấn (hỏi), thiết (xem mạch, sờ nắn).

Dựa vào 4 phương pháp này, thầy thuốc sẽ tập hợp đầy đủ các triệu chứng và hệ thống hóa để chẩn đoán bệnh, tìm hiểu nguyên nhân. Từ đó các bác sĩ thấy thuốc sẽ đưa ra phương pháp điều trị cụ thể và phù hợp cho từng tình trạng.

Tứ chẩn chuẩnđoán bệnh trongđông y

Tứ chẩn chuẩn đoán bệnh trongđông y

Các phương pháp chẩn đoán học – Tứ chẩn

Vọng chẩn (Nhìn)

Quan sát thần sắc, hình thái, mặt lưỡi… của người bệnh để nắm sơ bộ tình trạng bệnh. Từ đó sẽ đi sâu để tìm hiểu bệnh bên trong trong cơ thể phản ánh ra bên ngoài. 

Trong đông y, việc xem xét mặt, mắt, lưỡi thần sắc cần phải hết sức tỉ mỉ bởi các bộ phận này quan hệ vối rất nhiều tạng phủ. 

  1.  Vọng thần

Xem thần là xem sự hoạt động về tinh thần và ý thức, là nơi thể hiện ra bên ngoài sự hoạt động của các tạng phủ bên trong. Khi xem thần có thể xác định được 1 trong 2 vấn đề:

  • Còn thần: Mắt sáng, tỉnh táo bệnh nhẹ, chính khí chưa bị tổn thương quá nhiều, tạng phủ chưa bị suy yếu, tiên lượng bệnh nhẹ, chữa dễ và có khả năng khỏi.

  •  Mất thần: Tinh thần mệt mỏi, thờ ơ, nói không có sức, chính khí đã suy yếu là bệnh nặng việc điều trị sẽ khó khăn, mất nhiều thời gian, tiên lượng dè dặt.

Tuy nhiên, cần chú ý đến hiện tượng Hồi quang phản chiếu (Giả thần). Đây là hiện tượng người bệnh mãn tính lâu ngày cơ thể suy yếu nhưng đột nhiên tinh thần tỉnh táo, ăn uống nhiều, gò má đỏ và thích nói. Đây là dấu hiệu của chính khí muốn thoát, bệnh tình xấu đi nên thường tiên lượng xấu.

  1. Vọng sắc

Xem sắc ở mặt, người bình thường sắc mặt sẽ tươi nhuận, ngược lại khi có bệnh sẽ có thay đổi về sắc. Dựa vào sự thay đổi về sắc sẽ biết được trạng thái bệnh lý ở tạng phủ tương ứng.

Sắc đỏ:

Mặt sắc đỏ thường do viêm nhiệt, trong đó cần phân biệt thực nhiệt hay hư nhiệt.

  • Thực nhiệt đỏ toàn mặt, kèm sốt cao và sốt toàn thân.

  • Hư nhiệt thường ửng đỏ ở 2 gò má, người gai rét không sốt, thường gặp trong các chứng âm hư sinh nội nhiệt.

Sắc vàng: 

Do tỳ mất chức năng kiện vận, thủy thấp đình trệ, khí huyết giảm sút làm da không được nuôi dưỡng nên có triệu chứng vàng. Chứng vàng da (hay còn gọi là hoàng đản) được chia thành nhiều loại:

  • Vàng da mà sắc tươi sáng là do thấp nhiệt (hoàng đản nhiễm trùng).

  • Vàng da mà sắc vàng ám tối là do hàn thấp (hoàng đản do ứ mật, tan huyết).

  • Sắc mặt hơi vàng là do tỳ hư.

Sắc trắng: Do hư, do hàn thiếu máu.

Sắc đen xám: Thường do thận hư, tinh khí suy kiệt không thể vận hóa được thủy thấp khiến máu huyết ngưng trệ gây ra tình trạng xám đen.

Sắc xanh: Do hàn, do đau do ứ huyết, do kinh phong.

  1. Vọng hình thái

Xem hình thái, tư thế hay cử động để biết tình trạng sức khỏe của các tạng phủ. Chủ yếu là 5 tạng sau đây:

  • Da, lông kho là phế hư.

  • Cơ nhục gầy nhẽo là tỳ hư.

  • Xương yếu, răng lung lay là thận hư.

  • Chân tay bị run, co quắp là can hư.

  • Tinh thần mệt mỏi và tâm hư.

Ngoài ra, xem tư thế cử động của người bệnh để biết trạng thái tổng quát thuộc âm hay dương chứng.

  • Người ưa rên rỉ, hay cáu gắt thuộc dương chứng.

  • Người thích nằm yên, không ưa sáng, tiếng động thuộc âm chứng.

  1. Vọng mũi

Phế khai khiếu ở mũi, nên các thầy thuốc bác sĩ sẽ xem hình dạng của mũi để chẩn đoán trạng thái hư yếu hay bất thường.

Ngoài ra còn dựa vào màu sắc và tình trạng nước mũi để chẩn đoán bệnh.

  1. Vọng môi

Dựa vào màu sắc, tình trạng môi các thầy thuốc, bác sĩ sẽ chẩn đoán một số tạng phủ bên trong:

  • Môi đỏ hồng khô do nhiệt.

  • Môi trắng nhợt do huyết hư.

  • Môi xanh tím do ứ huyết.

  • Môi xanh đen do hàn.

  • Môi lở loét do nhiệt vị.

  1. Vọng da

Tìm kiếm những dấu vết xuất hiện trên da để suy đoán những vùng đang bị rối loạn hoặc suy yếu trong cơ thể. Các dấu hiệu xuất hiện trên da có thể là phù thũng, vàng da, nhiễm sắc khác màu, nốt ruồi, mụn cơm…

  1. Vọng tai

Dự vào sự thay đổi các dấu hiệu báo bệnh trên các vùng loa tai để suy đoán bệnh từ các tạng phủ tương ứng. Các dấu hiệu có thể quan sát thấy ở vành tai như:

  • Sụn tai ở chân vành tai cột sống bị rối loạn.

  • Các đường nhăn xuất hiện ở vành tai ở người dưới 60 tuổi có thể là dấu hiệu của tắc mạch máu cơ tim.

Ngoài ra, còn có thể quan sát ráy tai, trạng thái ráy tai để chẩn đoán các bệnh, hoặc các bộ phận đang suy yếu, rối loạn bên trong cơ thể người bệnh.

  1. Vọng mắt

Mắt là vùng phản chiếu của cơ thể, xe mắt có thể biết được phần nào trạng thái rối loạn của cơ quan tạng phủ tương ứng. Trong nghiên cứu có thể thấy mắt có liên quan đến các tạng sau:

  • Tròng đen liên quan đến can

  • Thịt 2 bên khóe mắt liên quan đến tâm.

  • Mi mắt liên quan đến tỳ.

  • Tròng trắng liên quan đến phế.

  • Con ngươi liên quan đến thận.

  1. Vọng lưỡi

Việc quan sát lưỡi cũng có thể chẩn đoán bệnh khá chính xác, bởi các dây thần kinh mạch máu và các nhú dạng chỉ của lưỡi rất nhạy.

  • Lưỡi người bình thường chất lưỡi mềm mại, linh hoạt, hoạt động tự nhiên và có màu hơi hồng. Phần rêu lưỡi mỏng trắng hoặc ít rêu, không khô, ướt vừa phải.

  • Lưỡi người có bệnh chất lưỡi thường thay đổi về màu sắc, hình dáng và cử động lưỡi sẽ phản ánh tình trạng hư thực của các tạng phủ, sự thịnh suy của khí huyết, rêu lưỡi có phần thay đồi về màu sắc. Từ đó sẽ phản ánh vị trí nông sâu, tính chất của bệnh.

Khi xem lưỡi, các thầy thuốc, bác sĩ sẽ chú ý một số vấn đề:

  • Xem chất lưỡi: Màu sắc, hình dáng, cử động lưỡi.

  • Xem rêu lưỡi: Màu sắc của rêu, tính chất của rêu (dày/mỏng, khô/ướt).

Từ đó sẽ có những cách chẩn đoán chính xác về phủ tạng đang suy yếu hay đang gặp vấn đề rối loạn để đưa ra phương pháp điều trị cho phù hợp.

  1. Vọng mặt

Mặt cũng là một trong số các vùng phản chiếu của cơ thể, do đó qua khuôn mặt các bác sĩ phần nào sẽ đoán biết được bệnh tật ở các cơ quan tạng phủ tương ứng.

  1. Vọng tay chay

Xem chân tay sẽ thường chú ý đến hình dáng, màu sắc và vân tay những dấu hiệu lạ xuất hiện trên các vùng này sẽ phản ánh các tạng phủ tương ứng đang bị rối loạn, hoặc suy giảm.

Ngoài ra, chân cũng là nơi phản chiếu nhiều bộ phận của cơ thể đặc biệt là lòng bàn chân. Các bác sĩ, thầy thuốc sẽ dựa vào hình thái, cường độ điện trở ở lòng bàn chân để chẩn đoán trạng thái bệnh lý ở cơ quan phủ tạng người bệnh đang mắc phải.

Nhìn chung phạm vi để vọng chẩn là rất lớn, nhưng việc chẩn đoán không nhất thiết phải áp dụng tất cả mọi phương pháp. Nên phối hợp vài phương pháp khác nhau để việc chẩn đoán chính xác hơn nếu có điều kiện.

Văn chẩn (nghe – ngửi)

Trong văn chẩn các thầy thuốc, bác sĩ sẽ chú ý đến các âm thanh phát ra từ bệnh nhân, và ngửi mùi xuất phát từ bệnh nhân.

Nghe tiếng nói

  • Tiếng nói nhỏ, hụt hơi và nói không đủ sức là dấu hiệu của hư chứng.

  • Tiếng nói to, vang mạnh là dấu hiệu của thực chứng.

  • Giọng nói ngọng, khó nói thường là dấu hiệu của trúng phong.

  • Mê sảng nói nhiều thuộc thực nhiệt.

  • Nói một mình (độc thoại) thuộc tâm thần hư.

Nghe tiếng thở

  • Thở to thở mạnh là dấu hiệu của bệnh thực chứng.

  • Thở nông yếu là dấu hiệu của bệnh hư chứng.

Nghe tiếng ho

  • Ho có đờm là thấu, ho không đờm là khái, còn ho khan bệnh nội thương thuộc phế âm hư.

  • Bệnh cấp tính mà khản tiếng do phế thực nhiệt.

  • Ho lâu ngày mà khản tiếng là phế âm hư.

  • Ho hắt hơi sổ mũi là cảm mạo phong hàn.

  • Ho từng cơn kèm tiếng rít là ho gà.

Nghe tiếng nấc

  • Nấc liên tục, tiếng to là thực nhiệt.

  • Nấc thưa, tiếng nhỏ là hư hàn.

  • Với những bệnh lâu ngày vì khí yếu thấy triệu chứng nấc cần chú trọng theo dõi và quan sát vì đó có thể là một dấu hiệu tiến triển xấu của bệnh.

Ngửi mùi

Mùi của hơi thở, của mũi của miệng và một số chất thải như đờm, phân nước tiểu sẽ là cơ sở để thầy thuốc, bác sĩ có thể phân biệt được tình trạng hư thực, hàn nhiệt của bệnh.

  • Phân tanh hôi và loãng do tỳ hư.

  • Nước tiểu khai đục do thấp nhiệt.

  • Đại tiện phân chua, thối do tích nhiệt thực tích.

  • Đại tiện phân khắm thối do tỳ hư, huyết nhiệt.

Ngoài ra, còn có thể dựa vào mùi qua da để chẩn đoán một số bệnh.

Vấn chẩn (hỏi)

Việc hỏi các tình trạng của người bệnh hoặc người thân của người bệnh cũng là một cơ sở quan trọng để chẩn đoán bệnh. Các chi tiết như tiền sử bệnh, diễn tiến bệnh đến lúc thăm khám các vấn đề này là yếu tố cực kỳ quan trọng để bổ sung cho những khái niệm đã có để làm sáng tỏ những nghi ngờ trong quá trình vọng chẩn và văn chẩn.

  • Các vấn đề cơ bản cần hỏi: Quê quán, sinh hoạt, tập quán, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, tiền sử bệnh, diễn tiến bệnh từ lúc phát đến lúc khám.

  • Các vấn đề chi tiết cần hỏi: Thân nhiệt, vị trí đau, ăn uống, ngủ, vấn đề đại tiểu tiện, kinh nguyệt – khí hư,…

Dựa vào các câu trả lời của bệnh nhân hoặc người thân bệnh nhân từ đó sẽ có những cơ sở kết hợp với vọng chẩn và văn chẩn để chẩn đoán đúng tình trạng tạng phủ đang bị rối loạn hoặc suy yếu.

Thiết chẩn

Thiết chẩn là phương pháp chẩn đoán học cuối cùng trong thiết chẩn. Từ đó có thể  tập hợp đầy đủ các triệu chứng giúp cho việc chẩn đoán bệnh được toàn diện hơn.

Trong thiết chẩn có 2 phần: Sờ nắn (Án chẩn) và xem mạch (mạch chẩn).

Sờ nắn

Việc sờ nắn để xem vị trí cũng như tính chất của bệnh. Thông thường việc sờ nắn được xem tại da thịt, tay chân và bụng.

Sờ nắn da thịt để xác định hàn nhiệt, khô nhuận, phù, mụn nhọt… Sờ nắn bụng (phúc chẩn) sẽ dựa trên vị trí tạng phủ có bệnh, cần chú trọng vào cơn đau, việc ứ trệ của khí huyết…

Xem mạch

Mục đích của việc xem mạch là để biết được tình trạng thịnh suy của tạng phủ và vị trí nông sâu, tính chất hàn nhiệt của bệnh

Định nghĩa mạch là một thực thể của âm và dương là gợn sóng của khí huyết. Để chẩn mạch phải dùng trực giác và lý trí phối hợp để nhận định thể trạng của mạch. Trong đó bao gồm:

  • Vị trí: Nông hoặc sâu.

  • Cường độ: Mạnh hoặc yếu.

  • Tốc độ: Nhanh hoặc chậm.

  • Nhịp độ: Đều hoặc không đều.

  • Thể tích: Lớn hoặc nhỏ.

  • Hình thái: Tròn hoặc dẹt.

Các vị trí xem mạch: Động mạch quay ở cổ tay tại vị trí thổn khấu (thường dùng nhất), động mạch ở đùi, động mạch chày sau, động mạch mu chân, động mạch thái dương.

Nên xem mạch vào thời điểm buổi sáng, nghỉ ngơi trước khi xem 15 phút và thầy thuốc cần phải nhẹ nhàng, bình tĩnh, tập trung tư tưởng, chú ý vào cảm giác đầu ngón tay.

Người bệnh có thể ngồi hoặc nằm và để ngửa cổ tay, bàn tay. Thầy thuốc sẽ dùng 3 ngón tay (giữa, trỏ và áp út) để đặt vào vị trí mạch tại thốn khẩu ở 3 vị trí thốn, quan, xích. Tùy theo hình dáng người bệnh cao hay thấp, nhỏ hay lớn mà thấy thuốc, bác sĩ sẽ đặt tay thưa hay khít.

Tay phải của thầy thuốc, bác sĩ sẽ xem tay trái của người bệnh và ngược lại tay trái của thầy thuốc, bác sĩ sẽ xem cho tay phải của người bệnh.

Có 3 mức độ ấn mạch: Thượng án, trung án, hạ án.

  • Thượng án: Ấn nhẹ thấy mạch.

  • Trung án: Ấn vừa phải thấy mạch.

  • Hạ án: Ấn sâu sát xương mới thấy mạch.

Có 2 cách xem: Tổng khám và đơn khám.

Xem cả 3 bộ gọi là tổng khám để nhận định tình hình chung, là cách xem thường sử dụng nhất. Xem từng bộ gọi là đơn khám hay vi khản để đánh giá tình hình chi tiết từng tạng phủ. Trong khám bệnh thường kết hợp cả 2 trước là tổng khám sau là đơn khám.

Một số các hiện tượng về mạch

Mạch bình thường

Là mạch đập ở cả 3 bộ, đi không phù không trầm, mạch đi hòa hoãn, điều hòa và có lực. Trong y học cổ truyền, mạch bình thường trung bình 4 – 5 lần đếm trong 1 hơi thở. Trong tiếng chuyên môn gọi là “Tức”, 1 Tức có 4 – 5 chí với cách tính như sau: Hít 1 hơi vào rồi từ từ thở ra, vừa thở ra vừa đếm 1, 2, 3… đến hết thờ thì gọi là 1 Tức.

Theo YHHĐ, tương đương với 70 – 80 lần đập trong 1 phút. Và mạch trẻ em sẽ đập nhanh hơn từ 120 – 140 lần/ phút. Các dạng mạch đập còn phụ thuộc vào thể trạng, giới tính, tinh thần của mỗi người.

Mạch khi có bệnh

Khi có bệnh mạch có thể thay đổi theo vị trí nông sâu, nhanh chậm, có lực hoặc không, đều hoặc không đều…

  • Theo vị trí nông sâu: Mạch phù, mạch trầm.

  • Theo tốc độ của mạch: Mạch sác, mạch trì.

  • Theo cường độ của mạch: Mạch hư, mạch thực, mạch hoạt, mạch sáp, mạch hồng, mạch đại, mạch tế.

  • Theo biên độ: Mạch nhu, mạch huyền, mạch khẩn, khâu.

  • Theo dạng mạch không theo quy luật: Mạch xúc, mạch kết, mạch đợi.

Ngoài ra còn có kiêm mạch kết hợp mạch với chủ bệnh để có những chẩn đoán về phủ tạng tương ứng.

Tứ chẩn trong y học cổ truyền là cực kỳ quan trọng, là cơ sở để các thầy thuốc, bác sĩ chẩn đoán tình trạng rối loạn, suy kiệt của các tạng phủ người bệnh. Việc kết hợp giữa vọng chẩn, văn chẩn, vấn chẩn, thiết chẩn sẽ giúp cho việc chẩn đoán bệnh toàn diện và chính xác hơn. Đồng thời đưa ra các phương pháp điều trị phù hợp cho thể trạng, tình trạng của từng người bệnh.

024.999.999.33
Tư vấn miễn phí
Bản đồ
Tư vấn miễn phí